VÌ SAO YÊU CẦU TÒA ÁN TUYÊN VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU?
22/12/2025 00:23
YÊU CẦU TÒA ÁN TUYÊN VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU
Trong quá trình hoạt động, Văn phòng công chứng (VPCC) nào thì cũng một vài tuần hoặc lâu lâu nhận được văn thư của Tòa án gửi. Khi thì thông báo thụ lý vụ án, lúc thì gửi giấy mời, thậm chí có Tòa còn “triệu tập” vì được Tòa xác định tư cách tham gia tố tụng của VPCC là “người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan” trong vụ án Tòa đang giải quyết vì yêu cầu khởi kiện liên quan đến giao dịch được công chứng tại VPCC. Vẫn biết là việc tranh chấp liên quan đến hợp đồng, giao dịch đừng không được người dân mới phải đưa nhau ra Tòa. Tuy nhiên, Công chứng viên nào trong hoàn cảnh này đều cảm thấy phiền toái, tự nhiên bị xác định là “người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan” !? Rồi thì phải tìm lục hồ sơ lưu trữ có khi đã 5-7 năm (có trường hợp lẽ ra hết thời hạn khởi kiện) để sao chụp cung cấp tài liệu, làm văn bản giải trình, nêu ý kiến của tổ chức công chứng … cung cấp cho Tòa. Rồi Tòa mời tham gia làm việc …, hòa giải, xét xử, trong khi “nhà bao việc” !
Các Công chứng viên cảm thấy khó chịu nhất với yêu cầu của người khởi kiện (đôi khi phản tố của bị đơn) là : “Yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu.” (Trường hợp này chiếm tỷ lệ khá nhiều). Nhiều người khi xảy ra tranh chấp không hòa giải, thương lượng được mà không tìm hiểu kỹ nguyên nhân là do đâu; không biết nút thắt cần tháo gỡ ở chỗ nào? Và nhiều khi biết chính mình là người có lỗi, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng thiếu thiện chí giải quyết và nghĩ đơn giản rằng cứ yêu cầu tuyên hợp đồng đã công chứng vô hiệu là xong, sẽ giải quyết được tranh chấp (!?) Nhưng cuối cùng sau một thời gian kiện tụng thì một là phải rút đơn (khi được Tòa xem xét vụ việc, được nghe giải thích hoặc thông qua hòa giải mà vỡ lẽ); hai là bị Tòa tuyên bác đơn, tốn tiền án phí, tốn tiền thuê luật sư …
Vậy trong trường hợp nào thì một văn bản công chứng bị coi là vô hiệu (hoặc bị tuyên là vô hiệu)?
Bộ luật Dân sự 2015 quy định:“Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”.
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong hợp đồng được thực hiện như sau:
- Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
+ Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.
+ Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy có thể liệt kê cụ thể các trường hợp hợp đồng vô hiệu:
+ Hợp đồng vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;
+ Hợp đồng vô hiệu do giả tạo;
+ Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;
+ Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn;
+ Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
+ Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;
+ Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Thiết nghĩ, các trường hợp người khởi kiện có yêu cầu “tuyên hợp đồng giao dịch (văn bản công chứng) vô hiệu” phải xem xét xem giao dịch đó có không đáp ứng được một trong các điều kiện mà pháp luật quy định như đã nêu trên đây không ?
Cần phân biệt sự vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch (điều kiện để yêu cầu tuyên hợp đồng/văn bản công chứng vô hiệu) với sự vi phạm quyền và nghĩa vụ hợp đồng (yêu cầu thực hiện nghĩa vụ/đòi bồi thường thiệt hại). Có như vậy mới đảm bảo kiện đúng việc, kiện trúng người để được pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình.